Khung Trời Sao Mai

Sách
 




_____________
 

Mục Lục
 

Phần Mở Đầu
 

Lá Thư Thứ Nhất: Con thuyền giữa biển khơi

 

Lá Thư Thứ Hai: Vấn đề là sống như thế nào?
 

Lá Thư Thứ Ba: Những kỷ niệm với trường Mê Linh
 

Lá Thư Thứ Tư: Những kỷ niệm với trường Việt Hương

 

Lá Thư Thứ Năm: Bài học văn minh

 

Lá Thư Thứ Sáu: Con Đường đã lựa chọn

 

Lá Thư Thứ Bảy: Theo Bước Chân Thầy

 

Lá Thư Thứ Tám: Sống Và Làm Việc

 

Lá Thư Thứ Chín: Gia Đình Nhân Loại 

 

Lá Thư Thứ Mười: Con Người Biết Yêu Thương

 

Lá Thư Thứ Mười Một:  Thành Nhân

 

Lá Thư Thứ Mười Hai:  Đi Tìm Ý Nghĩa Nhân Sinh

 

Lá Thư Thứ Mười Ba: Tình Sâu Nghĩa Nặng
 

Lá Thư Thứ Mười Bốn: Như Dòng Sông Trôi Đi
 

Lá Thư Thứ Mười Lăm:  Bổn Phận Và Gánh Nặng

 

Lá Thư Thứ Mười Sáu: Hãy tự vấn mình

 

Lá Thư Thứ Mười Bảy:  Sống Gia Đình

 

Lá Thư Thứ Mười Tám:   Tình Yêu Là Hiệp Thông

 

Lá Thư Thứ Mười Chín: Tinh Thần Khiêm Tốn

 

Lá Thư Thứ Hai Mươi: Hãy Biết Sống Vị Tha

____________
 

 


 
 
 
 
 
 

THƯ CHO TUỔI HAI MƯƠI

Trần Văn Thông

 

 

 

Lá thư thứ nhất

Con thuyền giữa biển khơi


Các cháu thương mến,

Các cháu có biết không, con người sống trên đời cũng như con thuyền lướt trên dòng sông, có khi xuôi buồm thuận gió, cũng có khi lênh đênh, tơi bời trước bảo táp phong ba : Đã hiện hữu trên đời, ví như cơn mưa hoa hồng phủ đầy mặt đất, hoặc giả như một tấm vải dệt bằng những thực tế mà chẳng ai mong chờ. Tất nhiên, đó là những điều kiện để con người khẳng định vai trò làm chủ thiên nhiên của mình. Song điều quan trọng là phải nhận ra được từ đâu con người đã hiện hữu, hiện hữu để làm gì và bằng cách nào, rồi sẽ đi về đâu… Thế thì, nào có khác gì con thuyền kia đã biết ra đi từ bến nào và bến nào thuyền phải đến. Thật ngộ nghĩnh! Con thuyền, vật vô tri, vô giác sao mà hiểu biết được những điều quan trọng ? hẳn thật, hồn của con thuyền, chính là người lái đằng sau và người chèo đằng trước… Không may “vụng chèo, yếu chống ", mái chèo lại gảy vỡ, thuyền mất hướng, bất lực trước sóng to gió lớn, đành để mặc cho nước cuồn cuộn lôi bạt đi…! Thực vậy có nhiều nét tương đồng giữa con thuyền trên dòng sông và con người trên cõi đời. Ở đây suy niệm cách diễn đạt ngắn gọn mà súc tích của một nhà tư tưởng về bản chất của con người: “Con người là một cây sậy biết suy tư”(1). Quả thật, nơi con người, suy tư là chính yếu. Khi không còn suy tư chính xác nữa thì con người chỉa là cái vỏ cây không hồn, cái xác thấp kém hơn tất cả mọi thứ trên đời. Về mặt cấu trúc, con người là một tổng thể mà hình hài và tâm linh là hai thành phần cấu tạo nên. Thật tình, con người qua hình hài mong manh, yếu ớt liệu có cầm cự nổi một làn gió độc, một vi khuẩn xâm nhập vào đến phải sụp đổ? Thế mà con người vẫn là bá chủ thiên nhiên, vượt lên mọi giới, nhờ cái sức mạnh của bộ óc suy tư, đặc trưng của con người. Nhưng lắm khi cũng vì cái đặc quyền đó mà con người vấp phải bao nhiêu lổi lầm, chỉ vì “vụng chèo, yếu chống”. Cùng với con thuyền mất hướng, thuyền người có nguy cơ chìm sâu trong going tố của biển đời. Có nghĩa là, khi con người do những hiện thực chủ quan hoặc khách quan – suy tư sai đi một bước, không phân định trái phải, không thấu đáo trách nhiệm đối với chính mình, đối với cộng đồng thì tất yếu sẽ dồn dập đến bao nhiêu tan vở, khó lường! Cùng hòa hợp với bốn bể năm châu, chúng ta tiến vào thế kỷ 21 một cách hào hứng say sưa tiếp nhận một cuộc sống giàu có, văn minh dựa trên sự phát triển tột đỉnh của vật chất, thì cũng nên tỉnh táo để nhận ra rằng trong mọi phạm vi hoạt động, sự quá độ, lệch ngoài khuôn khổ cái chân lý làm người quả là một tai hại quá nặng nề!

Bao nhiêu năm tháng đã trôi qua, được học hỏi, được đào tạo, có học sinh sinh viên nào mà không nghe đến :”Vì lợi ích mười năm trồng cây, Vì lợi ích trăm năm trồng người” thế mà có mấy ai suy niệm rằng làm người là vô cùng khó khăn đến độ phải xác tín rằng không phải quyền lực, không phải địa vị, càng không phải là vàng núi bạc bể mà chỉ có con người mới là của quí giá, mà con người đành đánh mất đi, dẹp qua một bên phần tâm linh chủ yếu, để mặc sức chạy theo phù phiếm của đời sống phù du, và hiển nhiên sự mất quân bình đó là nguồn gốc của bao tệ nạn và khốn đốn đè nặng lên con người của thời đại hôm nay. Thật vậy, bao lâu con người “chưa” tìm lại được sự quân bình, không nói “không” tìm lại được sự quân bình, chưa,bởi lẽ luôn luôn sống trong niềm hy vọng để một ngày nào đó, sớm hay muộn, con người thiện chí sẽ thấy được ánh huy hoàng của chân lý. Lịch sử còn để lại nhiều mẫu sống đã được ghi nhận và theo dõi. Theo ông được biết, mấy trăm năm sau công nguyên có một thanh niên tuấn tú, thông minh, linh hoạt khác thường, thế mà trí tuệ cũng như tư duy đã không giúp gì được cho chàng: Lớn lên, càng vào đời thì chàng càng mê mải trong lầm lỗi, càng sa chìm vào giông tố. Ví như từ đám mây đen tối, chợt lòe ra một tia chớp sáng, để rồi tắt ngấm đi… Cứ thế, suốt cả giai đoạn quý báu nhất trong một đời người; những biến động không để cho trí óc chàng được thư giãn, được dũng mãnh, cứ y như cây sậy mỏng manh cố gắng vực dậy rồi lại cúi rạp xuống đất trước sức mạnh của những lôi cuốn trần tục. May mắn thay, bà Monica, mẹ của chàng đã chuyên tâm vào việc hoán cải con trai mình, xác tín rằng những gì con người không vượt qua được, thì chỉ có đấng Toàn Năng, Toàn Thiện mới làm nên. Cứ thế, ngày qua ngày, chẳng chút sờn long, hiền mẫu đó đã gặt hái được một kết quả vô cùng tốt đẹp : chàng trai không còn lặc hụp trong tội lỗi, đã biến đổi để trở thành một nhà thần học, một nhà hiền triết đồng thời là một văn sĩ trứ danh – Thánh Augustinus (2). Quả thật, trong mọi lãnh vực, mọi tổ chức, mọi cộng đồng nhỏ lớn, chính con người hãy đi vào hy vọng. “Hy vọng để tìm bình an trong mình, là nguồn hạnh phúc”. Phương thế đạt được chân lý ấy chính là :” Muốn biết người, phải biết mình, biết mình để biết người”.

Ông muốn trao lại cho các cháu một số kỷ niệm của một con người bình thường, rất bình thường, mà có lẽ các cháu có thể đoán biết là ai. Chắc chắn không phải là kỷ niệm đã đi vào lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới của những bậc anh hung hiển hách với nhiều thành tích vĩ đại đã dày công xây đắp quê hương, đặt nền tảng hòa bình thế giới; hoặc giả của ai đó tung hoành ngang dọc, để thỏa mãn cao vọng làm bá chủ toàn cầu. Không đâu các cháu, đây chỉ là những kỷ niệm, những mảnh nhỏ của đời ông như một khách lữ hành sắp bước qua đoạn đường cuối của mình. Để làm gì hở các cháu? Có lẽ các cháu ngạc nhiên, các cháu thắc mắc?

- Có phải đã nhiều lần, ông nói với các cháu: ”Nói về cái tôi không tốt, hơn nữa cái tôi là cái đáng ghét”. Sao bây giờ ông lại muốn kể cho các cháu những kỷ niệm liên quan đến cuộc đời ông? Chẳng phải đó là nói về cái “tôi” của mình ư?

- Các cháu còn nhớ những điều ông đã nói. Còn mong gì hơn! Các cháu hãy nghe ông ông nói. Vào ban đêm, lắm khi đang làm việc họăc đang đọc sách, bỗng điện mất trời tối như mực, phải sống cảnh mù lòa trong giây lát mà đã quá phiền muộn, bực tức vì chẳng thấy gì, chẳng nghe gì ngòai những tiếng càu nhàu khó những chịu: ”Sáp đâu? Đèn dầu đâu? Bao nhiêu lần rồi nói không nghe, không chịu lo sẵn sàng trước, thấy chưa! Mau lên, mau đi! Dầu hỏa có chưa? Thắp lên!”. Rồi im lặng, im lặng đầy khao khát ánh sáng! Thế rồi bổng nhiên tất cả cùng nhau cười òa lên, sung sướng: ”Có điện rồi! OK!”. Tiếng cười câu nói lại trở về, và cứ thế mãi mãi trong cuộc sống thường nhật của con người, của gia đình, của xã hội chúng ta.

Quả vậy, ánh sánh thật huy hòang, rực rỡ, đem lại cho ta bao niềm vui và sức sống, trong khi tối tăm gieo u buồn, ghê sợ - Thế nhưng có khi nào các cháu nghĩ rằng có điều gì còn đáng hãi hùng, lo sợ hơn nhiều? Đó chính là khi ngọn đèn chân lý đã tắt hẵn trong tâm hồn mà chúng ta nào có lo toan tìm lại đâu! Đến độ không còn hoặc chẳng cần sống với nội tâm nữa, chỉ biết nhìn sự vật mà chẳng bao giờ nghĩ ngợi gì hơn. Thật đáng lo và đáng buồn! Tất cả mọi người trong gia đình, đặc biệt là những người có trọng trách đạo đức và giáo dục, phải là những ngọn đèn chiếu sang cho nhau, và những ngọn đèn đó phải để lại khi vĩnh biệt ra đi. Rồi đây các cháu sẽ là cha, là mẹ; xa hơn nữa, các cháu sẽ là ông, là bà. Các cháu phải chuẩn bị những mẫu sống sáng suốt, đó là những ngọn đèn các cháu phải trao lại cho những kẻ khác , nếu chẳng phải đó là phần việc của cái “Tôi”? Trong nghĩa đó, cái “Tôi” thật cần thiết vô cùng, phải không các cháu?


Thân ái chào các cháu!


(1) Blaise Pascal (1623 – 1662) : Triết gia và văn sĩ Pháp.
(2) Aurelius Augustinus, sant Augustin(354 – 430): Văn sĩ, triết gia, nhà thần học.
 


* Xin chân thành cảm tạ Cô Trần Thị Mộc Lan (ái nữ của Thầy Trần Văn Thông) đã cho phép Khung Trời Sao Mai được phổ biến tác phẩm "Thư Cho Tuổi Hai Mươi" trên trang web khungtroisaomai.

* Xin đừng copy nếu không có sự chấp thuận của gia đình Thầy Trần Văn Thông và KhungTroiSaoMai.

* Xin chân thành cảm tạ các bạn nhóm KTSM Sài Gòn và Vùng Phụ Cận: Bùi Diệu, Bùi Mai, Trần Việt Hùng, Kim Văn Tiến, Trần Thị Trung đã đánh máy lại tác phẩm này.

  | Top Home |