Khung Trời Sao Mai

Sách
 




_____________
 

Mục Lục
 

Phần Mở Đầu
 

Lá Thư Thứ Nhất: Con thuyền giữa biển khơi
 

Lá Thư Thứ Hai: Vấn đề là sống như thế nào?

 

Lá Thư Thứ Ba: Những kỷ niệm với trường Mê Linh
 

Lá Thư Thứ Tư: Những kỷ niệm với trường Việt Hương

 

Lá Thư Thứ Năm: Bài học văn minh

 

Lá Thư Thứ Sáu: Con Đường đã lựa chọn

 

Lá Thư Thứ Bảy: Theo Bước Chân Thầy

 

Lá Thư Thứ Tám: Sống Và Làm Việc

 

Lá Thư Thứ Chín: Gia Đình Nhân Loại 

 

Lá Thư Thứ Mười: Con Người Biết Yêu Thương

 

Lá Thư Thứ Mười Một:  Thành Nhân

 

Lá Thư Thứ Mười Hai:  Đi Tìm Ý Nghĩa Nhân Sinh

 

Lá Thư Thứ Mười Ba: Tình Sâu Nghĩa Nặng
 

Lá Thư Thứ Mười Bốn: Như Dòng Sông Trôi Đi
 

Lá Thư Thứ Mười Lăm:  Bổn Phận Và Gánh Nặng

 

Lá Thư Thứ Mười Sáu: Hãy tự vấn mình

 

Lá Thư Thứ Mười Bảy:  Sống Gia Đình

 

Lá Thư Thứ Mười Tám:   Tình Yêu Là Hiệp Thông

 

Lá Thư Thứ Mười Chín: Tinh Thần Khiêm Tốn

 

Lá Thư Thứ Hai Mươi: Hãy Biết Sống Vị Tha

____________
 

 


 

 

 

 

 

 

THƯ CHO TUỔI HAI MƯƠI

Trần Văn Thông

 

 

 

Lá Thư Thứ Hai
 

Vấn đề là sống như thế nào?

 

 

Các cháu thân mến !

 

Các cháu cũng nên biết rằng: Mỗi người trong giáo giới như ông đến với nghề bằng con đường riêng. Tuy nhiên, dù sớm hay muộn, người thầy gắn bó với nghề thế nào cũng nhận ra rằng đây là một nghề cao quý trong những nghề cao quý. Cao quý ở nghề dạy học là coi trọng đời sống tinh thần. Có thể cuộc sống của bản thân và gia đình nhà giáo còn nghèo khó, thế nhưng họ luôn sống thanh bạch trong niềm tự hào thầm lặng về đời sống thanh bạch của mình. Nửa thế kỷ sống thác với nghề dạy học, ông càng thấm thía một điều: Chính đặc điểm nghề nghiệp của người thầy lại là chiếc chìa khóa thần kỳ mở ra những cánh cửa tuổi thơ, tạo ra mối hòa đồng giữa thầy – trò, giữa thầy trò với nhân quần, xã hội. Và nếu người thầy là nhân vật trung tâm của nhà trường thì hiệu quả của việc đào luyện con người lại tuỳ thuộc vào thế giới tinh thần của người thầy phát triển tới đâu, nằm ở thang bậc nào.

 

Ông đến với nghề dạy học một cách tự nhiên như không còn cách lựa chọn nào khác. Dường như Tạo Hóa sinh ra ông, ra cái thân xác này, cái linh hồn này là để dành cho công việc, sứ mệnh ấy – công việc của một người thầy giáo. Nhìn lại cuộc đời dạy học thăng trầm của mình có thể nói vui ít, buồn nhiều. Song những niềm vui, những niềm hạnh phúc hiếm hoi ấy lại có sức quyến rũ lạ kỳ, bởi đó là niềm vui, niềm hạnh phúc tinh thần cao quý. Nó khác biệt, thậm chí đối lập với sự đam mê vật chất, đối lập như nước với lửa, như ánh sáng với bóng tối.

 

Có thể mỗi người có một niềm tin khác nhau. Ông có niềm tin vào đấng toàn năng, ông tâm niệm sống là phó thác - Phải tin, tin thật lòng, tin hết mình thì hành động của mình mới được tiếp thêm sức mạnh tinh thần thiêng liêng và hữu hiệu. Phải chăng từ trong bản chất sâu xa của nghề của nghề dạy học đã có sự hài hòa tự tin. Nói vậy, vì ông nhớ lại một chuyện xảy ra đã từ lâu, chính ông được tận mắt chứng kiến, đã gieo vào tuổi thơ ông một ấn tượng khó phai mờ - nó ăn sâu vào ký ức của ông đến nổi cho đến nay, đã 90 năm trôi qua, hễ mỗi lần có dịp nhớ lại là mọi chuyện lại hiện lên, rõ mồn một :

 

Năm ấy, ông khoảng 14 tuổi. Ông sống ở làng Vạn Xuân (huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế), quê ngoại ông. Trong làng có gia đình ông H.P theo đạo Thiên Chúa và là một trong ba người giàu có bậc nhất ở Huế lúc bấy giờ. Thực ra, ông H.P xuất thân từ một gia đình nghèo khó, chuyên làm thuê cuốc mướn. Tình cờ trong một lần cuốc đất ông chạm phải một hũ vàng thoi. Theo suy đoán, có lẽ do những người chạy nạn vào thời Tây Sơn đã bỏ lại. Từ đó, ông H.P trở thành người giàu có nổi tiếng khắp vùng. Tuy nhiều của lắm tiền nhưng ông H.P lại là người mù chữ, không biết đọc biết viết, ngay chữ ký cũng không biết. Mọi giấy tờ đều phải điểm chỉ như bao kẻ mù chữ khác. Cũng may ông H.P có một người giúp việc khá thong thạo và đặc biệt rất trung thành. Do vậy mà mọi chuyện giao dịch làm ăn đều thuận buồm xuôi gió. Song việc nuôi dạy con cái thì ông ta tỏ ra bất lực. Ông H.P đông con mà phần lớn là những kẻ ăn tàn phá hại. Có lẽ ông ta dành nhiều tình thương cho cô con gái bất hạnh tên là H.T.H. Cô ấy lớn hơn ông của các cháu đây chừng vài ba tuổi. Cô bị bệnh đậu mùa từ lúc lên mười, mặt rỗ chằng, rỗ chịt, nên đã lớn tuổi mà không chồng. Cô đáp lại tình thương của cha bằng một tấm lòng hiếu thảo hết mực.

 

Giờ phút hấp hối của ông H.P thật thê thảm. Nhưng ai mà chẳng trãi qua phút giây ấy phải không các cháu? Cái chết đau xót thật, như đó là lẽ thường tình, không ai tránh khỏi. Vấn đề là chết ra sao? Song điều này lại lệ thuộc vào vấn đề sống ra sao? Cai chết thê thảm dằn vặt, ray rứt không nhắm mắt nổi, hay cái chết thư thái như bước vào giấc ngủ vào cõi trường sinh? Tất cả đều tùy thuộc vào sự hiện hữu của con người trong suốt cuộc đời mình.

 

Theo ông (tác giả), cái chết của ông H.P là một cái chết thê thảm, mặc dầu ông ta giàu nứt đố đổ vách. Giá có cách nào đem của cải theo mình xuống mồ! Và ông đã chết, đã ra đi khỏi trần gian xem ra không được ơn chết lành. Cha xứ đến làm phép xức dầu cho ông ta, lúc ông ta hãy còn tỉnh, mặc dầu cái chết đang bò lần từ chân lên. Có điều lạ là không rõ vì sao ông ta nằm mà tay mặt như đang nắm chặt một vật gì ở dưới lưng ông. Cha xứ nói điều gì ông ta cũng gật đầu, nhưng hỏi vì sao đặt tay dưới lưng thì ông ta không nói, bảo kéo tay ra thì ông không tuân theo. Con cái quay quần chung quanh ông, con trai, con gái, con dâu, con rể đủ mặt. Cha xứ yêu cầu họ lấy tay ông ta ra đặt trước ngực cho tự nhiên (Chết cũng cần nằm cho thật tự nhiên)! Nhưng không một ai dám làm. Tới khi gương mặt ông H.P gần như cứng đờ, cha xứ buộc lòng phải rút tay ông ta ra. Bàn tay ông ta hình như siết chặt hơn. Sức đã tàn, lực đã kiệt, nhưng tay vẫn khư khư giữ chặt một vật gì. Có lẽ tất cả sức lực còn lại ông ta dồn cả vào nơi bàn tay ấy cho đến khi tròng mắt đứng lại. Cha xứ cẩn trọng gở tay ông tar a. Đó là chiếc chìa khóa két sắt mà lúc còn sống không khi nào rời khỏi người ông ta. Cả đám con cái cùng “Ồ “  lên một tiếng, không rõ là vui hay buồn. Một cảnh hỗn lọan tiếp theo làm cha xứ bở ngở kinh hòang. Người đầu tiên nhận ra vật quý bí hiểm đó là cô H. Cô vồ lấy chiếc chìa khóa trong tay vị linh mục và chạy ào lên gác. Thế là cả đám anh em trai gái, lớn nhỏ như bừng tỉnh, cùng chạy ào theo. Cảnh vật lộn ấu đả diễn ra trên gác, mà bên dưới là thi thể của người cha mắt còn mở trừng trừng. Cha xứ sững người kinh ngạc. Vì tiền của người ta có thể xâu xé, chém giết lẫn nhau. Đến giờ cha xứ mới được chứng kiến tận mắt cảnh tượng đau lòng ấy. Ôi! Ngày tận thế sắp đến chăng? Không còn một người nào ở cạnh người chết, cha xứ đành phải yêu cầu xóm giềng xung quanh đến vuốt mắt cho ông H.P lần cuối. Rồi lau người cho ông.

 

Thật ghê gớm thay sức mạnh của đồng tiền. Người ta cần ăn để mà sống, chớ đâu phải sống để mà ăn. Chớ nên xem thường lợi ích vật chất mà cũng xin đừng tuyệt đối hóa vai trò của nó. Bởi một điều giản dị: Riêng việc thỏa mãn những nhu cầu vật chất thì con người đâu có gì hơn con vật. Thật đáng ghê sợ những kẻ vụ lợi, tham lam bạc vàng, nặng “phần xác” mà coi nhẹ “phần hồn”. Đáng ghê sợ, vì những kẻ chuộng lợi thường là những kẻ mưu mô, thủ đọan, mất nhân cách, phẩm hạnh. Có thể nhất thời chúng đạt được mục đích nào đó, hãnh diện vinh váo với đời. Nhưng luật đời đã định rõ:”ác giả ác báo”.

 

Ông mong câu chuyện mà ông vừa kể có thể là một bài học để các cháu suy nghĩ.

 

Thân mến chào các cháu.

 



* Xin chân thành cảm tạ Cô Trần Thị Mộc Lan (ái nữ của Thầy Trần Văn Thông) đã cho phép Khung Trời Sao Mai được phổ biến tác phẩm "Thư Cho Tuổi Hai Mươi" trên trang web khungtroisaomai.

* Xin đừng copy nếu không có sự chấp thuận của gia đình Thầy Trần Văn Thông và KhungTroiSaoMai.

* Xin chân thành cảm tạ các bạn nhóm KTSM Sài Gòn và Vùng Phụ Cận: Bùi Diệu, Bùi Mai, Trần Việt Hùng, Kim Văn Tiến, Trần Thị Trung đã đánh máy lại tác phẩm này.

  | Top Home |