Khung Trời Sao Mai

Sách
 




_____________
 

Mục Lục
 

Phần Mở Đầu
 

Lá Thư Thứ Nhất: Con thuyền giữa biển khơi
 

Lá Thư Thứ Hai: Vấn đề là sống như thế nào?
 

Lá Thư Thứ Ba: Những kỷ niệm với trường Mê Linh
 

Lá Thư Thứ Tư: Những kỷ niệm với trường Việt Hương

 

Lá Thư Thứ Năm: Bài học văn minh

 

Lá Thư Thứ Sáu: Con Đường đã lựa chọn

 

Lá Thư Thứ Bảy: Theo Bước Chân Thầy

 

Lá Thư Thứ Tám: Sống Và Làm Việc

 

Lá Thư Thứ Chín: Gia Đình Nhân Loại 

 

Lá Thư Thứ Mười: Con Người Biết Yêu Thương

 

Lá Thư Thứ Mười Một:  Thành Nhân

 

Lá Thư Thứ Mười Hai:  Đi Tìm Ý Nghĩa Nhân Sinh

 

Lá Thư Thứ Mười Ba: Tình Sâu Nghĩa Nặng
 

Lá Thư Thứ Mười Bốn: Như Dòng Sông Trôi Đi
 

Lá Thư Thứ Mười Lăm:  Bổn Phận Và Gánh Nặng

 

Lá Thư Thứ Mười Sáu: Hãy tự vấn mình

 

Lá Thư Thứ Mười Bảy:  Sống Gia Đình

 

Lá Thư Thứ Mười Tám:   Tình Yêu Là Hiệp Thông

 

Lá Thư Thứ Mười Chín: Tinh Thần Khiêm Tốn

 

Lá Thư Thứ Hai Mươi: Hãy Biết Sống Vị Tha

____________
 

 


 

 

 

 

 

 

THƯ CHO TUỔI HAI MƯƠI

Trần Văn Thông

 

 

 

Lá Thư Thứ Năm

 

Bài học văn minh

 

 

Các cháu thân mến,

 

Có lẽ các cháu thắc mắc không hiểu sao từ Huế vào đây, ông sống ở Bảo Lộc đã nhiều năm mà hình như vẫn không muốn thay đổi. sao ông vẫn bám lấy mảnh đấy đó; nơi cuộc sống nghèo khó, nhưng con người biết sống, cần cù mà an lạc, lam lũ mà văn minh; vui sướng có nhau; buồn khổ cũng có nhau. Từ “Văn minh” ở đây có thể làm các cháu bật cười, nghĩ sao ông có vẻ lẩn thẩn đến thế?

 

Ông không trách các cháu nếu như các cháu chưa chia sẻ được cùng ông. Bởi ông là người đã từng trải qua tuổi đời của các cháu, ông hiểu các cháu nhiều. Có thể không sai lắm về ý niệm văn minh nơi các cháu, mà cũng có thể cả ở những người lớn hơn các cháu; thường dựa vào bên ngòai, vào sự giàu sang, sung mãn, dựa vào trang phục, vào văn bằng địa vị, lối sống tường cao cửa rộng; cũng có khi dựa vào các hành phi trong quan hệ xã hội. Nói chung là lấy vật chất, cách sống bên ngòai đánh giá văn minh. Tuổi trẻ là tuổi năng động, tuổi nhắm tới tương lai, tuổi ưa mới, đòi hỏi tiến bộ. Bởi thế chiếc áo năm xưa đã cũ, đã không vừa vặn vào khổ người của các cháu nữa rồi, nên các cháu đâu chịu khóac vào người, mà chỉ muốn vứt bỏ đi! Phải là cái mới, thời trang, mang “nhãn hiệu “ nước ngòai càng hay, càng sang, càng hợp thời hơn!...Như vậy cũng có phần đúng trong cách hiểu của các cháu. Bởi lẽ “Văn minh” là một xã hội, từ tình trạng thô sơ vươn tới một tình trạng cao hơn về văn hóa, cũng như về vật chất. Ý niệm như vậy, lâu nay đã được chấp nhận; làm sao lội được dòng nước ngược để rồi không tuân theo quy luật tự nhiên? Thế nhưng, các cháu nên hiểu rằng: Trăm người trăm ý, ngàn người ngàn xu hướng, muôn người muôn nhận định. Quả thật, trong mọi lĩnh vực, không có điều gì là hòan hảo, vẫn còn sai sót, vẫn còn khác biệt và hạn chế, ngọai trừ những gì đến từ “ Thượng đế”.

 

Đến đây, ông không muốn giảng thuyết với các cháu. Ông muốn các cháu cùng ông đi vào thực tế đời sốg. ông muốn kể cho các cháu những điều mà ông đã chứng kiến, những thực tế có thể đem lại cho các cháu ít nhiều kinh nghiệm. Ông hy vọng tất cả những điều đó sẽ giúp các cháu có một cách suy nghĩ và ý niệm đúng đắn và đầy đủ hơn.

 

Ông còn nhớ, hồi ông qua Pháp, mỗi sáng chủ nhật, khi lễ xong, ông ra trước cửa nhà thờ đợi người nhà đến đón. Ông đã chứng kiến một cảnh diễn ra trước mắt ông nhiều lần. Từng tốp người Pháp tiếp nối đi ra, họ là những người giàu sang, quyền quý, trang phục cao cấp, tướng mạo oai phong. Họ từ trong đi thẳng đến những chiếc xe bóng lộn, tài xế nghiêng người cung kính, cửa mở sẵn. Sau khi họ bước hẳn vào bên trong xe, cửa đóng sập lại, rồi xe vụt chạy đi. Mặc cho những người đồng hương nghèo nàn, cơ cực, sắp hàng dọc theo bờ tường, trước cửa chính nhà thờ, đôi mắt ngước lên khẩn cầu, hai tay đưa ra trước, mong có một chút gì để bỏ vào miệng sống qua ngày. Kệ thây, những người giàu sang đó cứ thản nhiên đi qua, mắt họ không dùng để nhìn những cảnh tượng đau đớn, khốn cùng; họ vẫn cười cười, nói nói, chẳng có chút bận lòng trắc ẩn. Quả thật là một cảnh tương phản, một cảnh đối nghịch giữa sự sống bên ngòai và sự sống bên trong của con người khốn khổ kia vẫn còn đó. Một trong những lần đó, ông đã nhình thấy một bà già có vẻ như người Á châu, tiếp đó hai vợ chồng đứng tuổi, theo sau là hai người con. Sau một lát trao đổi mới biết đó là một gia đình người Việt qua pháp đã lâu, ăn mặc rất bình thường, vì đã mấy năm qua họ không có việc làm. Các cháu biết không? Thất nghiệp là tình trạng khốn khó của nhiều người Việt ở nước ngòai…! Thế nhưng, trước khi về, hình như họ bàn bạc, trao đổi với nhau những gì nhẳng hiểu, rồi nhẹ nhàng đặt vài đồng tiền vào tay những người không cùng Tổ quốc… trước khi bước đi, rồi biến mất ở khúc quanh đường… Đọc đến đây, chắc các cháu tự hỏi: “Còn ông mình thì sao? Ông có làm như vậy không?” Hôm đó, ông chẳng có gì trong túi, muốn làm như thế mà đành chịu. Nhưng ông rất hãnh diện về tình yêu cao cả, lối sống đầy tình người của anh em đồng hương, thậm chí cả những người đang lặn lội tìm sự sống ở một đất nước có tiếng cực kỳ là văn minh.

 

Các cháu biết không, suốt thời gian ở Pháp, ông đã chứng kiến cảnh khổ đau, bần cùng đến tột độ. Ông cũng thấy không ít những cảnh tương phản; thấy lối sống xa hoa, phóng đãng của xã hội giàu sang, đêm đêm ăn chơi, ném tiền qua cửa sổ. Ông không thể hiểu tại sao những con người đó phơi bày một lối sống nhỏ nhen, man rợ, chứa giấu một trái tim khô cằn, một thái độ thờ ơ, một sự dửng dưng độc ác trước những cơ cực lầm than, thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu cả tình máu thịt đồng bào.

 

Buồn cười thật, một hôm ông đi Paris vời cậu P. Lúc đó đã hơn 10 giờ đêm, cậu còn đưa ông đến phố Pidalle để ông biết chút gì gọi là cuộc sống về đêm của thành phố hoa lệ. Ở đây, đúng là chốn ăn chơi, nào là rạp chiếu bóng, hàng tạp hóa, đầy ắp các xa xỉ phẩm, nào là quán cà phê, nào là quán rượu tràn ngập ánh sáng, tấp nập khách ra vào, đủ màu da. Đặc biệt tràn ngập các cô vũ nữ, gái làm tiền, ăn mặc hở hang diêm dúa; mà lạ, hình như họ đã quen sống “tự nhiên”. Còn ông thì như không thể nào quen với cảnh ngộ trước mắt.

 

-Thôi, về con hè!

 

-Dạ, gì thế ba, ba mệt à?

 

-Không, ba muốn xuống xe một lát thôi.

 

Xe ông chạy chậm lại, vì sóng người, dòng xe lũ lượt cứ nối tiếp nhau; người về, kẻ đến suốt đêm. Gần đến sông Seine, ông vẳng nghe từ gầm cầu tiếng kêu than thống thiết: “Xót thương tôi với!” Lúc đó, đã gần nửa đêm, trong cái giá lạnh kinh khủng của đầu đông. Xuống xe, ông đến gần, thấy một ông già, run rẩy nằm tựa lưng vào tường đá gầm cầu. Rồi một bóng đen cùng đến gần; ông nhận ra bà già người châu Phi; bà muốn cởi chiếc áo ấm đang mặc trên người; ngập ngừng một lát, bà lấy chiếc áo cao cổ đang vắt trên tay, rồi cúi xuống, cẩn thận, nhẹ nhàng mặc vào cho ông già “da trắng đó”…

 

Có lẽ thư cũng đã khá dài. Ông chỉ mong sao những sự việc ông kể cho các cháu trong thư này mở ra cho các cháu một lối suy nghĩ, phân định rõ ràng và đầy đủ điều thường gọi là văn minh.

 

Thân mến chào các cháu!



* Xin chân thành cảm tạ Cô Trần Thị Mộc Lan (ái nữ của Thầy Trần Văn Thông) đã cho phép Khung Trời Sao Mai được phổ biến tác phẩm "Thư Cho Tuổi Hai Mươi" trên trang web khungtroisaomai.

* Xin đừng copy nếu không có sự chấp thuận của gia đình Thầy Trần Văn Thông và KhungTroiSaoMai.

* Xin chân thành cảm tạ các bạn nhóm KTSM Sài Gòn và Vùng Phụ Cận: Bùi Diệu, Bùi Mai, Trần Việt Hùng, Kim Văn Tiến, Trần Thị Trung đã đánh máy lại tác phẩm này.

  | Top Home |