Khung Trời Sao Mai

Sách
 




_____________
 

Mục Lục
 

Phần Mở Đầu
 

Lá Thư Thứ Nhất: Con thuyền giữa biển khơi
 

Lá Thư Thứ Hai: Vấn đề là sống như thế nào?
 

Lá Thư Thứ Ba: Những kỷ niệm với trường Mê Linh
 

Lá Thư Thứ Tư: Những kỷ niệm với trường Việt Hương

 

Lá Thư Thứ Năm: Bài học văn minh

 

Lá Thư Thứ Sáu: Con Đường đã lựa chọn

 

Lá Thư Thứ Bảy: Theo Bước Chân Thầy

 

Lá Thư Thứ Tám: Sống Và Làm Việc

 

Lá Thư Thứ Chín: Gia Đình Nhân Loại 

 

Lá Thư Thứ Mười: Con Người Biết Yêu Thương

 

Lá Thư Thứ Mười Một:  Thành Nhân

 

Lá Thư Thứ Mười Hai:  Đi Tìm Ý Nghĩa Nhân Sinh

 

Lá Thư Thứ Mười Ba: Tình Sâu Nghĩa Nặng
 

Lá Thư Thứ Mười Bốn: Như Dòng Sông Trôi Đi
 

Lá Thư Thứ Mười Lăm:  Bổn Phận Và Gánh Nặng

 

Lá Thư Thứ Mười Sáu: Hãy tự vấn mình

 

Lá Thư Thứ Mười Bảy:  Sống Gia Đình

 

Lá Thư Thứ Mười Tám:   Tình Yêu Là Hiệp Thông

 

Lá Thư Thứ Mười Chín: Tinh Thần Khiêm Tốn

 

Lá Thư Thứ Hai Mươi: Hãy Biết Sống Vị Tha

____________
 

 


 

 

 

 

 

 

THƯ CHO TUỔI HAI MƯƠI

Trần Văn Thông

 

 

 

Lá Thư Thứ Sáu

 

Con Đường Đã Lựa Chọn
 

 

Các cháu thân mến,

 

Đêm đã khuya,ngoài trời mưa đã rơi, khiến ông cảm thấy trống vắng tràn ngập tâm hồn. Ông nhớ lại quãng đời niên thiếu của mình, cái tuổi của các cháu bây giờ; tụ nhiên ông cảm thấy lạc quan một cách kỳ lạ, bởi vì ông đặt long tin nơi các cháu và mong tìm được nơi độ tuổi đó sự kỳ vọng một tương lai tươi sáng tốt đẹp. Cũng vì lẽ đó, ông muốn trò chuyện cùng các cháu qua lá thư này.

 

Các cháu thân mến! Nhớ lại quá khứ của chính mình, hiển nhiên là một điều cần thiết để có kinh nghiệm sống hiện tại và xây dựng tương lai. Chắc các cháu cũng đồng ý với ông về điểm này. Ông kể cho các cháu nghe vài sự việc vừa xảy ra trong quãng đời dạy học của ông, vào những năm tháng xa xưa; đã cách nay già nửa thế kỷ, song chúng vẫn còn mãi trong tâm như những hoài niệmsâu đậm, khó phai mờ.

 

Ông nhớ, khoảng năm 1940, ông dạy tại trường Đệ Tử Dòng Chúa Cứu Thế (Juvénat des P.Rédemptoristes) và trường Thiên Hữu (Collège de la Providence). Đó là hai trong số những trường lớn và uy tín nhất lúc bấy giờ ở cố đô Huế. Hôm đó là ngày lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng. Ngày áp lễ vẫn không có thông báo lễ và nghỉ dạy; nghĩa là trường vẫn sinh hoạt như thường lệ. Sinh hoạt như thường lệ? Lạ thật!... Ông nghĩ, về phía nhà trường đó là sự thờ ơ, khó mà chấp nhận được nếu không muốn nói, là một sự xúc phạm đối với lịch sử dân tộc! Suốt đêm, đầu óc ông làm việc rất nhiều. Ông suy nghĩ,cân nhắc và sau cùng đã quyết định cho dù điều đó có thể dẫn đến nhiều tai hại cho cuộc sống của ông: Không đến trường ngày hôm đó. Thật không may cho ông, vào khoảng 9, 10 giờ, tức vào hai tiết dạy của ông, một tiếng nổ vang dội bên phòng ăn của nội trú, kế cận phong dạy của ông… Hẳn các cháu có thể đoán được việc gì xảy ra cho ông: Ông bị ông hiệu trưởng người Pháp gọi lên văn phòng.

 

Ngay khi vừa bước vào phòng, ông đã bị hạch hỏi:

 

- Thầy có biết việc gì xảy ra chưa?

 

- Tôi biết. Tôi đã tự ý nghĩ dạy những giờ của tôi.

 

- Thầy có thấy thầy có lỗi?

 

- Tôi nhận điều đó, nhưng, thưa hiệu trưởng, thà rằng tôi có lỗi với nhà trường còn hơn có lỗi với lịch sử Việt Nam và dân tộc Việt Nam chúng tôi.

 

- Tại sao vậy?

 

- Bởi lẽ, lễ Hai Bà Trưng của Viêt Nam nào có khác gì lễ Jeanne d’Arc của nước Pháp!

- …

 

Các cháu, tưởng như cuộc đối thoại vắn vỏi ấy cứ tiếp tục, căng thẳng, bế tắc đến rạn nứt, tai hại cho sự nghiệp giảng dạy của ông tại trường Thiên Hữu. Thế mà, quả là một điều bất ngờ, thú vị: Kết thúc cuộc gặp gỡ hôm đó là một sự cảm thông thấu tình, đạt lý. Ông hiệu trưởng tiếp:

 

- Đúng, thầy vẫn còn là một thanh niên!

 

- Cám ơn hiệu trưởng, tôi không còn là một thanh niên nữa; nhưng tôi đặt nhiều kỳ vọng vào tuổi trẻ của mọi dân tộc…

 

Các cháu, quả thật tuổi trẻ là chặng đường quan trọng nhất trong đời mỗi con người. Nó là giai đọan dự án cũa cuộc sống; nó giàu năng lực, giàu khả năng; nó giàu phẩm chất; nó căng nhựa sống. Tất cả là một kho tàng tinh thần vô giá. Nhờ đó, tuổi trẻ trong quá trình phát triển nhân cách của mình, phát hiện được cái giá trị nội tại và ý nghĩa đích thực của cuộc sống của mình. Có thể các cháu tự hỏi tại sao lại như vậy? Vì, đó lả lẽ sống, là lý do để biết sống, sống thật chứ không phải sống mà đang chết dần. Bởi thế, nếu tuổi trẻ mà không có cái gia tài tinh thần đó, họăc giả có mà không được bồi bổ, bị lãng quên, bị phỉnh phờ, thì qui luật tăng tiến tòan diện của xã hội con người không còn nữa. Bởi vậy, khi mà cái gia sản tinh thần của tuổi trẻ trong thời kỳ đang được rèn luyện, đang được trau dồi, mà bất kỳ một sự kiện gì xảy ra làm tổn thương cái tài sản đó, thì hẳn là một sự xúc phạm cần phải được đền bù bằng một lọai “trả thù” đặc biệt – “trả thù” mà vẫn ở trong vòng đạo lý. Có nghĩa là không gậy tổn thất cho một ai, cả tinh thần lẫn thể xác.

 

Như ông đã nói ở đầu thư, ông muốn các cháu tiếp tục nghe ông trình bày. Các cháu biết! Dù ông dạy ở nhiều trường nhưng ông vẫn luôn ấp ủ mộng ước xây dựng một trừơng nữ trung học tư thục phỏng theo mô hình và cấu trúc riêng biệt. Thú thật, ông nơm nớp lo sợ ước vọng của mình khó thể hình thành, chỉ là ảo mộng. Bởi lẽ, lúc bấy giờ ông chỉ là một thầy giáo tư thục, không có một quyền lực nào cả. Quả thật là cô đơn, làm sao mà thực hiện được mơ ước đó; thế mà lạ lùng thay, một trường nữ trung học đã ra đời: Trường nữ trung học tư thục Mê Linh. Một thời gian sau đó, trường được hóan cải thành trường hỗn hợp cho cả nam lẫn nữ, tương tự các trường tư thục ngày đó. Học sinh nhập học ngày càng đông, thuộc đủ mọi thành phần xã hội. Trường hỗn hợp Mê Linh không từ khước một phần tử nào, dù là thuộc thành phần bất hảo, và sẵn sàng đón nhận dư luận từ mọi phía.

 

Một hôm, gần đến ngày tựu trường, linh mục hiệu trưởng trường Thiên Hữu đến thăm ông và nói: “Tôi đến thăm thầy và xin thầy nhận thêm lớp “troisìeme”, thế cho linh mục giáo sư Petit Jean quá bận việc. Luôn tiện, xin bàn với thầy về mấy vấn đề liên quan đến trường Mê Linh đã thành một trường hỗn hợp; nhưng điều làm tôi bâng khuâng nhất qua dư luận là cách thâu nhận học sinh quá dễ dàng, tương phản hẳn với các trường khác. Tôi e rằng sẽ có tai tiếng cho trường và chính cho thầy trong cương vị là hiệu trưởng; vả lại cũng phiền cho trường Thiên Hữu, vì thầy là một trong những giáo sư thực thụ của trường. Mong thầy thông cảm và xét kỹ lại vấn đề…”

 

Thật vậy, sau buổi nói chuyện, qua lời lẽ của linh mục hiệu trưởng Thiên Hữu, ông nhận thấy dư luận không hiểu được đường lối của trường Mê Linh. Trường bị tổn thương và đó chính là một vấn đề cần làm sáng tỏ. Ông đã tập hợp một số học sinh được coi như là những “phần tử bất hảo” của nhà trường để gần gũi hơn, khi mà bản thân họ cảm thấy rằng họ là những thành phần không còn một ai muốn tiếp xúc nữa.

 

- Hôm nay thầy tập hợp các con lại đây, trong phòng riêng của thầy, để trong khung cảnh gia đình đầm ấm, thầy nói với các con vài điều quan trọng đặc biệt. Trước hết, thầy cho các con biết trường Mê Linh bị dư luận lên án là một trường mà con em học sinh là một khối hỗn tạp, đủ mọi thành phần, tốt xấu lẫn lộn được nhận vào học rất bừa bãi và quá dễ dàng. Phỏng theo dư luận, uy tín của trường đã bị tổn thương rất nhiều; nhưng thành phần bị xúc phạm nặng nề nhất, chính là các con; vì lẽ các con là những thanh niên bị dư luận chối bỏ, coi như những người đang sống mà đã chết đi rồi. Nói đến đây, thầy xót xa trong lòng, lại càng muốn khăng khít với các con hơn nữa bội phần. Hiển nhiên, nào P. nào G. nào V. và tất cả có mặt tại đây. Các con là cái bia để dư luận bắn vào, thì há dễ trường dửng dưng không chịu đạn cùng với các con sao? Nhưng chỉ cúi đầu chịu đạn cũng không đủ. Đó là khiếp nhược, là không dũng khí. Cần phải chuẩn bị một “lọai trả thù”, để xứng đáng là một con người có nhân cách. Nghĩa là không phải bằng hung khí, mà bằng một thiện chí sắt đá; quyết tâm quay ngược lại hướng đi của mình. Đây, rõ ràng là trường Mê Linh đã được xây dựng theo: “Mô hình và cấu trúc đặc biệt”. Chính vì sự riêng biệt đó mà trường Mê Linh là trường của các con. Uy tín của trường còn hay mất, là do các con lấy lại hoặc đánh mất đi – cái tài sản vừa là tinh thần, vừa thiêng liêng của tuổi trẻ nơi các con. Đường lối giáo dục của trường thành công hay thất bại, đó là do dự án cho tương lai của các con sau buổi gặp mặt giữa thầy và trò trong ngày hôm nay. Giờ đây, các con gắng nán lại vài ba phút để thầy bộc lộ tâm tình với các con.

 

- Trường rất tin cậy vào tuổi trẻ của các con, lứa tuổi mạnh và giàu có, nhưng lắm khi cũng yếu đuối và nghèo nàn. Bởi lẽ chưa đủ để ngăn chặn được ngọn sóng bên trong, cũng như làn sóng bên ngòai tràn ngập vào; có sức phá hủy, xói mòn những gì tốt đẹp thuộc về các con.

 

- Trường có ý niệm rằng một cơ sở giáo dục không khác gì một “bệnh viện”, nhằm mục đích săn sóc và cứu chữa những bệnh nhân, những người bị khuyết tật do bất kỳ một hòan cảnh nào đó.

 

- Trường học cũng ví như “chuồng chiên”, mục tử phải chăn dắt đem về chuồng những con chiên lạc đàn mất hướng.

 

- Cuối cùng, các con và trường, chúng ta phải có thái độ nào ? Phần thầy, thầy đề nghị các con một điều: Phải quyết tâm rửa sạch con người của mình; phải quyết tâm “trả thù” cho bằng được; “trả thù” bằng cách tiêu diệt và chiến thắng “cái xấu” xưa nay đã hủy họai con người của các con: Phải trọn niềm chiến đấu để chinh phục lại những gì đã mất; phải lột xác quyết liệt để từ con người cũ, trở thành con người mới. Tới đây, thầy trò chúng ta đã đi đến điểm then chốt trong buổi gặp gỡ này, Thành thật thầy tin tưởng các con rất nhiều nhưng vẫn cứ ngại không biết niềm tin tưởng ấy có thực hiện được không? Bởi lẽ: Cuộc chiến tinh thành là cuộc chiến vô cùng gay go. Quả thật, chỉ có sức thiêng, một quyền năng tuyệt đối, một tình thương tuyệt đối mới giúp các con vượt qua được vòng vây yếu đuối tội lỗi của con người. Thầy muốn giúp các con thật nhiều, mà nào thầy có làm thay được gì cho các con! Chính các con mới là chủ chốt trong vấn đề cao cả hệ trọng này.

 

Cuối cùng, thầy mong ước các con ghi nhớ những tâm sự giữa thầy và trò chúng ta ngày hôm nay để sống một cuộc đời xứng đáng và có ý nghĩa hơn…

 

Các cháu thân mến! Rồi sau đó bặt tin thầy trò, sau những năm tháng dài như thế kỷ, có lẽ từ 1966 đến năm 1977.

 

Một ngày kia không còn nhớ rõ, ông đi dạy về, đi bộ vào buổi trưa; dưới bầu trời nắng chang chang của xứ Quảng từ trường Phan Châu Trinh về Thanh Hải. Bổng nhiên có tiếng kêu: “Thầy ơi? Ơi thầy!” rồi tiếng xe thắng lại:

 

- Thưa thầy, thầy nhớ con không? P. đây thầy, học trò cũ Mê Linh của thầy đây. Chao ôi! Thầy gầy quá (mắt rưng rưng chẳng).

 

- Thầy nhớ lắm! Sao? Con có gia đình chưa? Công việc làm ăn ra sao?

 

- Dạ, con nói để thầy mừng cho con. Con làm ở sở điện; con là thợ chuyên, vợ con dạy trường mẫu giáo, hai đứa con chúng con đã đi học rất ngoan, đạt được danh hiệu “Chác ngoan Bác Hồ”.

 

- Tốt quá, con vẫn nhớ trường cũ chứ? Bạn con còn đây không? Hay tản mác khắp nơi rồi?

 

- Thưa thầy, làm sao quên được thầy. Mà e thầy còn nhớ chúng con nhiều (nước mắt lại chảy). Con nhớ mãi trong tâm trí con lời “gởi gắm” của thầy vào hôm đó, tại phòng riêng của thầy (nước mắt lại chảy). Con nói thầy mừng, con là thợ chuyên, đúc kết cuối năm, con được danh hiệu “Tốt đạo đẹp đời”. Đúng là “sống lại” thầy hè! Còn bạn con, một đứa dạy cấp I trường Võ Thị Sáu, Thanh Bồ; thằng G dạy cấp III ở Hội An

 

- Thầy mừng cho các con. Nhớ chu tòan bổn phận và đừng lơ là lẽ sống.

 

- Để con đưa thầy về.

 

- Được.

 

Các cháu thân mến, câu chuyện thực tế này cũng đáng để các cháu ngừng lại và suy niệm, phải không?

 

 

Thân mến chào các cháu!


 



* Xin chân thành cảm tạ Cô Trần Thị Mộc Lan (ái nữ của Thầy Trần Văn Thông) đã cho phép Khung Trời Sao Mai được phổ biến tác phẩm "Thư Cho Tuổi Hai Mươi" trên trang web khungtroisaomai.

* Xin đừng copy nếu không có sự chấp thuận của gia đình Thầy Trần Văn Thông và KhungTroiSaoMai.

* Xin chân thành cảm tạ các bạn nhóm KTSM Sài Gòn và Vùng Phụ Cận: Bùi Diệu, Bùi Mai, Trần Việt Hùng, Kim Văn Tiến, Trần Thị Trung đã đánh máy lại tác phẩm này.

  | Top Home |